Home Tin Tức Việt Nam Việt Nam có thể mất thị trường xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc

Việt Nam có thể mất thị trường xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc

Việt Nam có thể mất thị trường xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc

Tỷ lệ công nhân Việt Nam cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc dù giảm nhưng vẫn lên đến 38%. Nếu con số này không giảm xuống dưới 30%, nhiều khả năng Việt Nam sẽ mất thị trường xuất khẩu lao động giàu tiềm năng này.

Theo Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền, cuối năm 2013, Bộ đã ký với Bộ Lao động Hàn Quốc biên bản ghi nhớ đặc biệt trong vòng một năm tiếp tục đưa lao động Việt Nam sang làm việc, với điều kiện số lao động cư trú bất hợp pháp giảm xuống dưới 30%. Tháng 11 này, hai bên sẽ đánh giá tình hình thực tế, trên cơ sở đó xem xét việc ký thỏa thuận tiếp tục đưa công nhân Việt Nam sang Hàn Quốc. Theo bà, nếu người sang làm việc về nước đúng hạn, thì cơ hội quay trở lại Hàn Quốc làm việc là điều hoàn toàn có thể.

Tháng 7 vừa qua, Hàn Quốc đã ban hành chính sách mới, theo đó nếu lao động về nước đúng hạn, chủ sử dụng tiếp tục muốn ký hợp đồng thì có thể quay trở lại làm việc. Việt Nam bắt đầu đưa công nhân sang làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc từ tháng 8 năm 2004. Trên 71,000 công nhân Việt Nam sang làm việc theo chương trình này. Tuy nhiên, từ cuối năm 2010, phát sinh vấn đề công nhân VN sau khi hết hạn hợp đồng không về nước, ở lại làm việc và cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc.

Khoảng 50,000 lao động Việt Nam đang bỏ trốn, cư trú, làm việc bất hợp pháp ở nước ngoài trong đó có Hàn Quốc. Để hạn chế tình trạng này, Chính phủ đã có nhiều biện pháp mạnh như quy định về ký quỹ, ra chỉ thị yêu cầu các địa phương đôn đốc lao động trở về, đồng thời ban hành nghị định 95 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động.

Chênh lệch về thu nhập là một trong nguyên nhân khiến công nhân Việt Nam bất chấp rủi ro, thậm chí chịu xử phạt để cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc. Nếu thị trường Hàn Quốc bị đóng, mỗi năm nhà nước Việt Nam sẽ mất 700 triệu USD lượng kiều hối. (T. Lan)

(1)