Home Tin Tức Việt Nam Quyền im lặng – chống tra tấn và cải cách tư pháp ở Việt Nam

Quyền im lặng – chống tra tấn và cải cách tư pháp ở Việt Nam

Quyền im lặng – chống tra tấn và cải cách tư pháp ở Việt Nam

Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế về chống tra tấn. Công ước này không chỉ giúp đảm bảo quyền con người, mà còn có tác động đến các hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, đó mới chỉ là ký kết tham gia, Việt Nam vẫn chưa áp dụng thực tiễn vào đời sống tại Việt Nam.

Trong thời gian qua, các đại biểu quốc hội, quan chức ngành công an đã có hai lời phát biểu vô cùng “nguy hiểm” đến cười ra nước mắt:

– Ông Đại biểu Quốc hội Đỗ Văn Đương: “Quyền im lặng không phải quyền con người, mà quyền bào chữa mới là quyền cơ bản của người phạm tội trong tố tụng hình sự. Nó nhằm thực hiện chức năng gỡ tội cho họ”

– Ông Thượng tướng Công an Bùi Văn Nam: “Pháp luật Việt Nam chưa có khái niệm về tra tấn và chưa quy định rõ về tra tấn, chưa có quy định về từ chối dẫn độ với người có nguy cơ bị tra tấn”.

Trong khi đó, từ “tra tấn” có trong Đại từ điển Tiếng Việt, trong thuật ngữ ngành luật !

Nếu người dân không có quyền im lặng trong các hoạt động điều tra, lấy lời khai và pháp luật “chưa có khái niệm về tra tấn và chưa quy định rõ về tra tấn”, thì những người nghi can sẽ bị bức cung, nhục hình – đó chính là tra tấn, để bắt họ phải khai, không cho họ giữ im lặng. Từ đó sẽ còn tiếp tục những cảnh “tự tử”, “chết đột tử” bất thường tại các trụ sở của công an, các trại tạm giam, hay may mắn hơn là khi vào trụ sở công an thì lành lặn khi đi ra thành tàn tật như truyền thông trong nước thường đưa tin.

Nguyên tắc “trọng chứng cứ hơn lời khai” trong điều tra, xét xử các vụ án hình sự tại Việt Nam có được đề cập tới. Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng, nguyên tắc này không được đoái hoài đến, bởi vậy mới xảy ra những vụ án oan. Ví dụ như vụ án của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang – kết án dựa trên những lời khai có được do ép cung, nhục hình.

Thêm vào đó, việc tranh tụng tại tòa án Việt Nam phần nhiều mang tính chất hình thức, không được coi trọng, còn xét xử án chủ yếu dựa vào “hồ sơ vụ án” do Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện Kiểm sát chuyển lên quan tòa. Trong nhiều vụ án, thẩm phán chủ tọa phiên tòa đọc vanh vách những bản án đã được sắp đặt trước, bỏ vào túi áo vest.

Cũng phải nói thêm rằng, bệnh “thành tích” không chừa một ngành nào tại Việt Nam, kể cả là ngành điều tra hình sự, ngành công tố, hay ngành tòa án xét xử. Tất cả đều có “chỉ tiêu”, và để “hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu” thì các ngành này sẽ “sử dụng các biện pháp nghiệp vụ” của họ trong việc điều tra, xét xử để đạt được thành tích như mong muốn. Do đó, việc các vụ án oan sai chiếm phần không nhỏ !

Có thể nói cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện đang nặng về khẩu hiệu, hô hào, nhằm vận động sự quan tâm và hỗ trợ về mặt tài chính từ các quốc gia tiến bộ như Đức, Pháp, Úc, Vương quốc Anh, …Nhưng thực chất, mọi sự cải cách vẫn bằng một con số 0 ! Bởi thực chất trong việc bảo đảm quyền con người ; quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo ; bản chất của ngành tư pháp không hề có sự thay đổi. Nguồn vốn đổ vào cải cách tư pháp coi như vô ích và thật sự là “cái mỏ” cho những người “mà ai cũng biết là ai” đục khoét! (Nhật Nam)

(1)