Nhạc sĩ Lê Thương

Nhạc sĩ Lê Thương

Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng Lê Thương sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới.

Lê Thương là một trong những cánh chim đầu đàn của tân nhạc, cùng thế hệ với Dương Thiệu Tước, Văn Chung, Lê Yên, Thẩm Oánh, Nguyễn Xuân Khoát. Ông từng là một thầy dòng, nhưng rồi lại bỏ áo tu – chắc vì tâm hồn quá lãng mạn và đa tình. Tuy vậy, chất “thầy” vẫn còn thấm đượm trong ông nên dù có viết nhạc “hoa bướm”cỡ nào thì ông vẫn được tiếng là nghệ sĩ có cuộc sống rất chừng mực, giản dị và trí thức (sau khi bỏ áo tu ông làm nghề giáo).

Lê Thương sừng sững như ngọn núi cao trong tân nhạc với bộ ba Hòn Vọng Phu, với câu chuyện thiếu phụ Nam Xương chờ chồng hoá đá. Ông thuộc về những người đầu tiên viết truyện ca, và đã để lại những bản truyện ca hay nhất như Nàng Hà Tiên, Lịch sử loài người. Đặc biệt hơn cả là bộ ba Hòn vọng phu, được xem như một trong những tác phẩm lớn nhất của tân nhạc Việt Namvới những âm điệu gần gũi, âm giai ngũ cung của dân ca Việt Nam và ảnh hưởng của Chinh phụ ngâm khúc.

Thời gian nhạc sĩ Lê Thương sáng tác “Hòn Vọng phu” 1 được xác định là vào năm 1943 và tại Bến Tre. Mở đầu bài hát, nhạc sĩ vẽ ra cảnh người chồng theo lệnh vua ra mặt trận trong tiếng trống thúc dồn. Trong khi đó, người vợ ở nhà ngày ngày ôm con chờ chồng để rồi chờ mãi tới… hóa đá. Năm 1946, Lê Thương sáng tác tiếp “Hòn Vọng phu” 2 (còn gọi là “Ai xuôi vạn lý”). Vẫn cảnh mẹ con người đàn bà hóa đá chờ chồng nhưng ngày càng gợi nỗi bi thương ngậm ngùi: “Người vọng phu trong lúc gió mưa/ Bế con đã hoài công để đứng chờ/ Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về/ Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ…/…Có ai xuôi vạn lý, nhắn đôi câu giúp nàng/ Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng… Năm 1947, Lê Thương kết thúc bộ tổ hợp liên khúc bằng “Hòn Vọng phu” 3 (còn gọi là “Người chinh phu về”). Cuối ca khúc là hình ảnh người chinh phu cưỡi ngựa trở về, nhưng là “cuộc trở về đã quá muộn màng, ai oán”: “Nhớ cố hương lưu luyến tấc lòng mau dồn chân/ Vết bước đi trên phiến đá mòn còn in dấu/ Từ bóng cây ngôi mộ bên đường/ Từ mái tranh bên đình trong làng/ Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống/ Bao mối thương vang động trong lòng”.

Ngày đó Lê Thương ôm một mối tình câm, lãng mạn như bài thơ “Lòng ta ôm một mối tình/Tình trong giây phút thành tình thiên thu…” Nghe nói rằng người trong mộng của ông sau này trở thành phu nhân một nhạc sĩ cũng rất nổi tiếng khác. Tình cảm này đã giúp Lê Thương viết bài “Nàng Hà Tiên”. Đây là bài hát nhiều người cho là dự báo cho Hòn Vọng Phu – kiệt tác của ông sau này. Cũng mô-típ chuyện tiên và hư hư thực thực như Thiên Thai (của Văn Cao), nhưng ở Lê Thương nghiêng về trần thuật (kể) hơn là trữ tình. Ông kể rằng người yêu người rồi đẻ ra tiên, tiên cũng vì yêu nên biến thành một bờ bến thơ mộng và hùng vĩ là địa danh Hà Tiên, một thắng cảnh du lịch.

Thập niên 40, ngoài những bản nhạc Tây rất thịnh hành trong thanh niên trí thức mới, thì một số bài hát Nhật cũng được phổ biến rất rộng rãi qua những ca khúc Nhật chuyển lời Việt, Lê Thương đã mượn âm giai Nhật để viết nên bài “Thu trên đảo Kinh Châu” rất được mến mộ thời bấy giờ.

Tên tuổi ông chỉ thật sự chói ngời khi soạn ra bộ ba bài hát dài hơi và giá trị cao là Hòn Vọng Phu. Đây là sáng tác đánh dấu sự phát triển đến mức cao nhất những thủ pháp viết ca khúc và phát triển ngũ cung, cũng như bút pháp ca từ của “thương hiệu” Lê Thương: sử dụng ca từ như một câu chuyện kể, kể những câu chuyện tình mang dáng dấp sử thi.Tuy nhiên trong giai đoạn này, Lê Thương cũng được biết đến với các bài hát Một ngày xanh và Bản đàn Xuân, là những tình ca buồn êm dịu.

Trong hồi ký của mình, phần liên quan tới bậc đàn anh Lê Thương, nhạc sĩ Phạm Duy kể: “Trong số những bạn đồng nghiệp, tôi yêu nhất nhạc sĩ Lê Thương. Anh rời Bến Tre lên Sài Gòn làm nghề thầy giáo… Lê Thương làm thơ, làm nhạc rất bay bướm nhưng anh có cuộc sống rất giản dị… Vào những năm đầu của cuộc chiến Nam Bộ, cũng như hầu hết những người trai của thời đại, Lê Thương có những đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh chống xâm lăng, giành tự do, độc lập. Chính vì ca khúc “Bà Tư bán hàng” của Lê Thương(ca khúc nói về một bà mẹ thành phố có các con tham gia kháng chiến) mà nhạc sĩ Lê Thương đã bị thực dân Pháp bắt giam vào khám Catinat (năm 1951). Lê Thương cũng là người chuyên soạn nhạc cho thiếu nhi, thiếu niên qua những bài Học sinh hành khúc, Tuổi thơ và bài Thằng Cuội.

Sinh thời, để mưu sinh, ngoài sáng tác ca khúc đơn thuần và sáng tác nhạc phim cho Hãng phim Mỹ Vân, Lê Thương còn tham gia giảng dạy tại một số trường tư thục ở Sài Gòn. Có thời kỳ, ông làm công chức ở Trung tâm Học liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục. Về tình riêng, Lê Thương từng lập gia đình với một phụ nữ học ở Pháp về, và có với bà này 9 mặt con. Nhạc sĩ Lê Thương qua đời tại Sài Gòn vào ngày 17 tháng 9 năm 1996. Trước đó ít năm, ông rơi vào tình trạng mất trí nhớ. Nhạc sĩ Phạm Duy từng nhận xét: “Trong làng tân nhạc, Lê Thương là người trí thức nhất”. Và tác phẩm đồ sộ Trường Ca Hòn Vọng Phu đã làm nổi bật tên tuổi của nhạc sĩ Lê Thương trong lịch sử âm nhạc Việt Nam…”

Thúy Vi / SBTN

(850)

tags: