Home Tin Tức Việt Nam 65 năm quan hệ Việt-Trung: bạn – thù và những kẻ cầu vinh !

65 năm quan hệ Việt-Trung: bạn – thù và những kẻ cầu vinh !

65 năm quan hệ Việt-Trung: bạn – thù và những kẻ cầu vinh !

Ngay sau khi Trung Cộng giành được quyền lực tại Hoa Lục, với chiến thắng trước Quốc Dân Đảng năm 1949, tháng 1/1950, Trung Cộng và Việt Cộng thiết lập mối quan hệ ngoại giao chính thức. Từ đó, các nguồn viện trợ của Quốc tế Cộng sản cho CSVN đều chạy qua Trung Cộng. Quan hệ hai bên gắn kết với nhau đặc biệt trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1950 – 1973. Trung Cộng đã cùng khối XHCN viện trợ cho CSVN cả người và của trong chiến tranh.

Tuy nhiên, do những thay đổi trong mối quan hệ giữa các cường quốc Hoa Kỳ – Liên Xô và Trung Cộng từ sau năm 1972, khiến mâu thuẫn trong quan hệ giữa Liên Xô và Trung Cộng càng lên cao, quan hệ giữa Moscow và Hà Nội càng thắm thiết, Bắc Kinh càng “xa lánh” Hà Nội. Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa Hải quân Trung Cộng và Hải quân Việt Nam Cộng hòa diễn ra trong bối cảnh đó, khi Hoa Kỳ “bỏ rơi” đồng minh.

Từ những sứt mẻ trước đó, từ sau năm 1975, quan hệ giữa CSVN và Trung Cộng ngày càng căng thẳng, bởi giới lãnh đạo Hà Nội đứng đầu bởi Lê Duẩn – một người có tư tưởng chống Tàu. Trung Cộng đã dung dưỡng cho Polpot khiêu khích và tàn sát dân Việt tại biên giới Tây Nam, dẫn đến chiến tranh Biên giới Tây Nam cuối năm 1978. Trung Cộng liền lấy cớ đó “dạy cho Việt Nam một bài học” bằng Chiến tranh biên giới Việt – Trung khốc liệt kéo dài 1 tháng ròng đầu năm 1979.

Từ năm 1979 đến 1989, biên giới Việt – Trung luôn căng thẳng, quân hai bên “nói chuyện” với nhau bằng súng đạn và đỉnh điểm là trận cao điểm Vị Xuyên, Hà Giang năm 1984 với phần thua về CSVN. Cũng trong giai đoạn đó, Trung Cộng xâm chiếm các đảo, đá của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Hiến pháp CSVN năm 1980 đã ghi rõ Trung Cộng là “bá quyền”, là đối thủ phải chống lại.

Cuối những năm 80, khối XHCN Đông Âu lâm vào khủng hoảng và tan rã, CSVN mất chỗ dựa, buộc lòng phải bình thường hóa quan hệ với Trung Cộng, với điều kiện tiên quyết: CSVN phải rút quân ra khỏi Cambodia. Năm 1989, CSVN rút quân khỏi Cambodia, quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Cộng bắt đầu và kết thúc bằng Hội nghị Thành Đô năm 1990, vốn bị nhiều người chỉ trích là hòa đàm bán nước.

Từ đó có thể nhận định rằng, tuy cùng chung ý thức hệ cộng sản, “quốc tế vô sản”, nhưng chủ nghĩa bá quyền Đại Hán của Trung Cộng là không đổi, lợi ích quốc gia là cốt lõi và hoàn toàn có thể xảy ra chiến tranh với CSVN. Cho đến nay, tranh chấp trên biển giữa hai bên vẫn còn và là một mối nguy cơ chiến tranh tiềm tàng.

Mặc kệ đúng dịp kỷ niệm 65 năm đặt quan hệ, Trung Cộng vẫn ngang ngược khẳng định: Trung Cộng có toàn quyền thực hiện các dự án phát triển ở vùng biển đảo mà chủ quyền thuộc về họ, kể cả những dự án cải tạo, xây đảo nhân tạo mà Trung Cộng đang thực hiện ở Trường Sa của Việt Nam.

Trong những năm gần đây Trung Cộng liên tiếp gây hấn với Việt Nam trên biển như: ngang nhiên thành lập cái gọi là Thành phố Tam Sa, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam ; xây cất, cải tạo các đảo, đá xâm chiếm trái phép của Việt Nam ; đặt giàn khoan nước sâu HD-981 trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam ; bắt giết, cướp bóc ngư dân Việt Nam trên Biển Đông ; … Trên đất liền, Trung Cộng thực hiện những âm mưu thâm độc đối với Việt Nam trong kinh tế, xã hội và chi phối chính trị đối với CSVN. Các phương tiên truyền thông của Trung Cộng tuyên truyền làm đa số người dân Trung Quốc luôn nhầm lẫn rằng Việt Nam là kẻ thù của nước họ. Báo Trung Cộng nói Việt Nam chiếm đất, chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Trung Quốc, nhằm đoạt nguồn dầu khí và hải sản của họ

Đối đáp lại các động thái đó của Trung Cộng, CSVN chỉ phản ứng bằng ngoại giao xáo rỗng, quá yếu hèn trước các hành động gây gấn của Trung Cộng trên biển. Về quản lý kinh tế, CSVN đã để Trung Cộng chi phối nhiều ngành kinh tế, bán phá giá trên đất Việt Nam. CSVN giao cho Trung Cộng những dự án quan trọng dẫn đến hệ quả nền kinh tế yếu kém, lệ thuộc Trung Cộng. Về mặt xã hội, CSVN đã không kiểm soát được lượng người Trung Quốc nhập cư và lao động trái phép, dẫn đến những hệ lụy nhức nhối trong dư luận.

Bất chấp những vấn đề xung đột giữa hai bên, trong dịp kỷ niệm này, ông Phạm Bình Minh – Bộ trưởng Ngoại giao CSVN, ông Nguyễn Văn Thơ – Đại sứ CSVN tại Bắc Kinh và các lãnh đạo cấp cao CSVN vẫn có những lời lẽ tốt đẹp thường thấy về quan hệ hai bên: triển vọng hợp tác, thắt chặt quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” giữa hai đảng, hai nước… Vấn đề lịch sử chỉ được nhắc thoáng qua, giống như “sóng gió”, “dỗi hờn” của đôi nam – nữ yêu nhau, chứ không nghiêm trọng như thực tế. Tranh chấp trên biển Đông được nhắc đến với những câu nói cũ rích, quen thuộc về các biện pháp giải quyết tranh chấp.

Trong phiên chất vấn trước Quốc hội, Thủ tướng CSVN – ông Nguyễn Tấn Dũng có nói về đường lối ngoại giao với Trung Cộng là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Điều này trên thực tế đã khẳng định bằng những hành động yếu mềm trước Trung Cộng trên biển Đông, những trấn áp đối với người yêu nước và lệ thuộc kinh tế, chính trị vào Trung Cộng rõ nét.

Nhiều người cho rằng, những động thái và lời nói trong dịp kỷ niệm này của một số nhân vật chính trị cao cấp CSVN có thể là nhằm mục đích lấy lòng Trung Cộng, tạo thế đỡ lưng cho kỳ Đại hội toàn quốc ĐCSVN sắp tới đây, và phục vụ cho công cuộc đấu đá nội bộ CSVN với phe chống Trung Cộng và cấp tiến.

Thật trớ trêu, dịp kỷ niệm Việt – Trung này nhằm đúng 41 năm hải chiến Hoàng Sa, với sự hy sinh của 64 chiến sỹ Hải quân Việt Nam Cộng hòa để bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc. CSVN đã không hề nhắc đến sự kiện này một cách chính thức, vì còn bận kỷ niệm quan hệ với giặc phương Bắc.

Nhật Nam / SBTN

(2)